Bản tin Thương mại Ngành Nhựa và Hóa chất (Tuần từ 24/10 – 31/10/2019)

TỔNG QUAN KINH TẾ
Kinh tế thế giới
Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu đang trong xu hướng giảm tốc và đối mặt với rất nhiều khó khăn, hàng loạt nền kinh tế lớn trên thế giới đã liên tục áp dụng các biện pháp nới lỏng chính sách tiền tệ và kích thích tài chính. Riêng trong tuần cuối tháng 10/2019, FED đã thông báo hạ lãi suất cơ bản thêm 0,25% về mức 1,5% - 1,75% đánh dấu đợt giảm lãi suất lần thứ 3 trong năm nay nhằm hỗ trợ tăng trưởng kinh tế trong nước, đồng thời FED cũng phát tín hiệu không cắt giảm thêm lãi suất trong thời gian tới và khẳng định kinh tế Mỹ vẫn đang duy trì tốc độ tăng trưởng ổn định.

Kinh tế Mỹ
  • Tốc độ tăng trưởng GDP của Mỹ đạt 1,9% tốt hơn so với dự báo tăng 1,6%.
  • Kinh tế Mỹ, trong tháng 10/2019, đã tạo thêm 125 nghìn việc làm, cao hơn dự báo là 100 nghìn việc, cho thấy thị trường lao động của Mỹ tiếp tục xu hướng bền vững.
Kinh tế Trung Quốc
  • Kinh tế Trung Quốc tiếp tục suy yếu trước những ảnh hưởng tiêu cực của căng thẳng thương mại và suy thoái kinh tế toàn cầu.
  • PMI trong lĩnh vực sản xuất của Trung Quốc trong tháng 10/2019 chỉ đạt 49,3 điểm, thấp hơn so với tháng trước.
  • PMI trong lĩnh vực dịch vụ - động lực tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc trong tháng này giảm xuống 52,8 điểm.
  • Những lo ngại về sự suy yếu của nền kinh tế nước này ngày càng tăng cao khi ngành sản xuất mất đà và gia tăng sức ép lên các nhà hoạch định chính sách Trung Quốc trong việc tăng cường thực hiện các biện pháp kích thích tăng trưởng.
Kinh tế Nhật Bản
Trong thời gian qua, căng thẳng thương mại và kinh tế toàn cầu suy yếu đã tác động tiêu cực lên kinh tế Nhật Bản:
  • PMI trong lĩnh vực sản xuất trong tháng 10/2019 giảm xuống 48,5 điểm, thấp hơn so với tháng trước và ghi nhận mức thấp nhất của chỉ số này trong 3 năm qua do sản lượng và số lượng các đơn hàng giảm mạnh.
  • Trong 9 tháng đầu năm 2019, tổng sản lượng xuất khẩu của Nhật Bản giảm 2,3% và tổng kim ngạch xuất khẩu giảm 1,5% so với cùng kỳ năm trước.
  • Diễn biến này củng cố thêm sức ép cho Ngân hàng Trung ương Nhật Bản trong việc nới lỏng chính sách nới lỏng tiền tệ kỷ lục nhằm hỗ trợ nền kinh tế.
Kinh tế trong nước                                           
Kinh tế trong nước đã đi qua tháng đầu tiên của quý IV/2019 với những chỉ số kinh tế vĩ mô tương đối tích cực:
  • Chỉ số IIP trong tháng 10/2019 ước tính tăng 2,7% so với tháng trước. Trong đó  ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 10,8%; ngành khai khoáng tăng nhẹ nhờ khai thác than tăng cao, bù đắp cho sự sụt giảm của khai thác dầu thô; sản xuất và phân phối điện đảm bảo cung cấp điện đủ cho sản xuất và tiêu dùng của nhân dân.
Trong bối cảnh tăng trưởng kinh tế của Việt Nam đang kỳ vọng nhiều vào lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo thì việc sản xuất công nghiệp tiếp tục xu hướng tích cực sẽ góp phần quan trọng tạo đà cho nền kinh tế tăng trưởng.
  • Hoạt động tiêu dùng ghi nhận tốc độ tăng trưởng khá. Trong tháng 10/2019, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 13,3% so với cùng kỳ năm 2018.
  • Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa của cả nước ước tính đạt 427,05 tỷ USD trong 10 tháng 2019. Trong đó, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa đạt 217,05 tỷ USD, tăng 7,4% so với cùng kỳ năm trước, đưa cán cân thương mại trong 10 tháng năm 2019 thặng dư 7 tỷ USD.
  • Chỉ số CPI trong tháng 10/2019 tăng nhẹ 0,59% so với tháng trước. Bình quân 10 tháng năm 2019, CPI tăng 2,48% do giá thịt lợn, xăng dầu tăng cùng với việc điều chỉnh tăng giá dịch vụ giáo dục. Tuy nhiên, đây vẫn là mức tăng bình quân 10 tháng thấp nhất trong 3 năm trở lại đây.
  • Diễn biến ổn định của kinh tế vĩ mô cùng với xu hướng tích cực của hoạt động tiêu thụ hàng hóa trong và ngoài nước đã góp phần tạo động lực cho sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp.
  • Các chỉ số kinh tế vĩ mô trong 10 tháng qua củng cố thêm kỳ vọng vào sự tăng trưởng ổn định và những kết quả tích cực của kinh tế trong nước dự kiến sẽ đạt được trong năm 2019, góp phần nâng cao vị thế và vai trò của Việt Nam trên bình diện kinh tế toàn cầu.
NGÀNH NHỰA – HÓA CHẤT VIỆT NAM
Nhập khẩu hóa chất
  • Kim ngạch nhập khẩu hóa chất từ thị trường Thái Lan 10 tháng đầu năm 2019 ước đạt 304 triệu USD, giảm 13,5% so với cùng kỳ năm 2018.
  • Một số mặt hàng hóa chất có lượng nhập giảm từ thị trường Thái Lan: Axit terephthalic tinh chế, Natri bicarbonate, Muội carbon,… Trong đó, Axit terephthalic tinh chế là mặt hàng hóa có lượng nhập lớn nhất từ thị trường Thái Lan trong 9 tháng đầu năm 2019.


Nhập khẩu chất dẻo nguyên liệu 
  • Nhập khẩu chất dẻo nguyên liệu trong tháng 10/2019 ước đạt 550 nghìn tấn với trị giá 745 triệu USD, tăng 4,4% về lượng và tăng 5,2% về trị giá so với tháng 9/2019. 10 tháng đầu năm 2019, nhập khẩu mặt hàng này ước đạt 5,21 triệu tấn với trị giá 7,46 tỷ USD, tăng 14% về lượng nhưng giảm 0,4% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018.
  • Trong tháng 9/2019, lượng nhập khẩu PE giảm 9,7%; PP giảm 10,3%; PVC giảm 8,9%; PET giảm 24,7%; PS giảm 0,4% về trị giá so với tháng 8/2019.

Xuất khẩu sản phẩm nhựa
  • Trong tháng 9/2019, kim ngạch xuất khẩu sản phẩm nhựa tới thị trường Hàn Quốc đạt 17,8 triệu USD, tăng 20,6% so với cùng kỳ năm 2018 và tăng 13,9% so với tháng 8/2019.
  • Tổng kim ngạch xuất khẩu sản phẩm nhựa sang Hàn Quốc đạt 149,2 triệu USD trong 9 tháng đầu năm 2019, chiếm 5,9% tổng kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này, tăng 32,2% so với cùng kỳ năm 2018.
  • Hàn Quốc đang là thị trường lớn thứ 3 nhập khẩu sản phẩm nhựa của Việt Nam trong 9 tháng đầu năm 2019. Hàn Quốc là thị trường có nhiều triển vọng đối với sản phẩm nhựa Việt Nam, nhất là các sản phẩm nhựa tấm, phiến, màng nhựa, sản phẩm nhựa công nghiệp và sản phẩm nhựa gia dụng, túi nhựa đang xuất khẩu tăng trưởng mạnh đến thị trường này trong 9 tháng đầu năm 2019. Trong khi đó, xuất khẩu sản phẩm nhựa vải bạt và các sản phẩm nhựa dùng trong vận chuyển đóng gói sang thị trường này lại giảm mạnh.



TÌNH HÌNH NGÀNH NHỰA – HÓA CHẤT TUẦN TỪ  24/10 – 31/10/2019
Nhập khẩu nguyên liệu nhựa
Về thị trường nhập khẩu
  • Theo số liệu thống kê sơ bộ, nhập khẩu chất dẻo nguyên liệu tuần qua đạt 153 nghìn tấn với trị giá 214 triệu USD, tăng cả về lượng và trị giá lần lượt  là  4,1% và 8,4% so với tuần trước.
  • Nhập khẩu chất dẻo nguyên liệu từ thị trường Đài Loan, Hồng Kông, Trung Quốc, Nhật Bản tăng mạnh, từ thị trường Thái Lan giảm mạnh so với tuần trước. 
 

Xuất khẩu sản phẩm nhựa 
Về thị trường xuất khẩu
  • Theo số liệu thống kê sơ bộ, xuất khẩu sản phẩm nhựa tuần qua đạt 104,2 triệu USD, tăng 4,9% so với tuần trước.
  • Trong tuần qua, các sản phẩm nhựa được xuất khẩu nhiều nhất tới 3 thị trường là Nhật Bản, Hàn Quốc và Mỹ với kim ngạch xuất khẩu đến 11 triệu USD. So với tuần trước, xuất khẩu sản phẩm nhựa đến Nhật Bản tăng 21%, xuất khẩu tới thị trường Hàn Quốc và Mỹ giảm lần lượt là 7,1% và 2,4%.
Về chủng loại xuất khẩu
  • Trong tuần, tất cả các sản phẩm nhựa xuất khẩu đều có sự biến động nhẹ so với tuần trước đó.

*3920: Tấm, phiến, màng, lá và dải khác, bằng plastic, không xốp và chưa được gia cố, chưa gắn lớp mặt, chưa được bổ trợ hoặc chưa được kết hợp tương tự với các vật liệu khác.
3921: Tấm, phiến, màng, lá và dải khác, bằng plastic.
3923: Các sản phẩm dùng trong vận chuyển hoặc đóng gói hàng hóa, bằng plastic; nút, nắp, mũ van và các loại nút đậy khác, bằng plastic.
3924: Bộ đồ ăn, bộ đồ dùng nhà bếp, các sản phẩm gia dụng khác và các sản phẩm phục vụ vệ sinh, bằng plastic.
3926: Các sản phẩm khác bằng plastic và các sản phẩm bằng các vật liệu khác của các nhóm từ 3901 đến 3914.
3919: Tấm, phiến, màng, lá, băng, dải và các hình dạng phẳng khác tự dưng dính, bằng plastic, có hoặc không ở dạng cuộn.
 
Hãy chia sẻ với chúng tôi trên mạng xã hội:

Bài viết khác

Scroll