Bản tin Thương mại Ngành Nhựa và Hóa chất (Tuần từ 17/10 – 24/10/2019)

Kinh tế thế giới
Tại Hội nghị thường niên của Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) và Ngân hàng Thế giới (WB), 2 định chế tài chính hàng đầu thế giới tiếp tục nhận định kinh tế thế giới – vốn đã suy giảm do tác động của các cuộc xung đột thương mại, đang tiếp tục phải đối mặt với hàng loạt thách thức cũng như những nút thắt cần tháo gỡ nhanh chóng. Thách thức lớn nhất của kinh tế toàn cầu là tăng trưởng đang chậm lại, đầu tư suy giảm, hoạt động sản xuất chững lại và thương mại suy yếu. Tốc độ tăng trưởng thương mại trong 2 năm gần đây đã thấp hơn tăng trưởng kinh tế toàn cầu, với tổng mức trao đổi hàng hóa trong năm 2019 được dự báo chỉ tăng 1,9% cho thấy thương mại không còn là động lực của tăng trưởng kinh tế toàn cầu. Nguyên nhân chính dẫn đến xu hướng này là do xung đột thương mại gay gắt giữa các nền kinh tế chủ chốt. Tuy nhiên, theo nhận định của WB và IMF, kinh tế thế giới có thể phục hồi và đạt tốc độ tăng trưởng trên diện rộng vào năm 2020 nhờ vào triển vọng kinh tế tích cực ở một loạt các nền kinh tế mới nổi và đang phát triển.

Kinh tế Trung Quốc
  • GDP trong quý III/2019 chỉ tăng trưởng 6% so với cùng kỳ năm trước;
  • Nguyên nhân chính dẫn đến sự giảm tốc của kinh tế Trung Quốc là do ảnh hưởng bởi căng thẳng thương mại Mỹ - Trung; nhu cầu nội địa suy yếu và sự bùng phát của dịch tả lợn châu Phi.
  • Chính quyền Trung Quốc trong thời gian tới được nhận định sẽ sớm triển khai thêm các biện pháp kích thích, thúc đẩy kinh tế nhằm ngăn chặn đà giảm sâu của tốc độ tăng trưởng.
Kinh tế khu vực Eurozone
  • Kinh tế khu vực “ảm đạm” với chỉ số PMI trong lĩnh vực sản xuất trong tháng 10/2019 đứng ở mức 45,7 điểm, không thay đổi so với tháng trước, cho thấy sản lượng sản xuất tiếp tục giảm tốc.
  • PMI trong lĩnh vực dịch vụ trong tháng 10/2019 cũng chỉ đạt 51,8 điểm, ghi nhận sự mở rộng chậm nhất của lĩnh vực này kể từ năm 2014,
  • Trong thời gian tới, nhiều khả năng căng thẳng thương mại Mỹ - Trung cộng với xung đột Mỹ và EU trong đánh thuế kỹ thuật số, xe ô tô và phụ tùng ô tô… sẽ khiến các nền kinh tế Eurozone tăng trưởng chậm hơn.
Kinh tế trong nước                                           
  • Theo số liệu của Ngân hàng Nhà nước, tính đến cuối tháng 9/2019, tăng trưởng tín dụng của toàn hệ thống tăng 9,4% so với cuối năm 2018. Trong đó, hiệu quả tín dụng được nâng cao hơn đáng kể khi mà chất lượng tín dụng ngày càng được cải thiện, dòng tín dụng tập trung vào sản xuất kinh doanh.
  • Tiến trình xử lý nợ xấu tiếp tục được triển khai quyết liệt và hiệu quả hơn sau khi Nghị quyết 24 của Quốc hội về thí điểm xử lý nợ xấu của các TCTD được ban hành để tháo gỡ nhiều vướng mắc trước đây. 
  • Chất lượng tín dụng được cải thiện và nợ xấu giảm mạnh đã giúp sức khỏe của hệ thống tổ chức tín dụng được nâng cao. Đây là yếu tố tích cực để các tổ chức xếp hạng tín nhiệm lớn liên tục nâng bậc xếp hạng tín nhiệm của Việt Nam trong thời gian qua và là động lực cho xu hướng ổn định của kinh tế vĩ mô, cũng như góp phần duy trì tốc độ tăng trưởng của kinh tế trong nước những tháng cuối năm 2019. 
NGÀNH NHỰA – HÓA CHẤT VIỆT NAM
Nhập khẩu hóa chất
  • Kim ngạch nhập khẩu hóa chất tháng 10/2019 ước đạt 420 triệu USD, tăng 7,4% so với tháng 8/2019. Tổng 10 tháng đầu năm 2019, kim ngạch nhập khẩu hóa chất ước đạt 4,26 tỷ USD, tăng 0,4% so với cùng kỳ 2018.
  • Nhiều loại hóa chất có lượng nhập khẩu giảm trong tháng 9/2019 so với tháng 8/2019 như: Axit terephthalic tinh chế, Natri carbonate, Natri sunphate,….

Nhập khẩu chất dẻo nguyên liệu 
  • Nhập khẩu chất dẻo nguyên liệu từ Thái Lan 9 tháng đầu năm 2019 đạt 479 nghìn tấn với trị giá 625 triệu USD, tăng 1,8% về lượng nhưng giảm 9,8% về trị giá so với tháng 8/2019.
  • Nhập khẩu các chủng loại nhựa  PP, PET, PC, PA từ thị trường Thái Lan giảm so với cùng kỳ năm 2018.


Xuất khẩu sản phẩm nhựa
  • Theo thống kê sơ bộ, xuất khẩu sản phẩm nhựa của Việt Nam trong tháng 10/2019 đạt 290 triệu USD, tăng 2,2% so với tháng 9/2019 và tăng 3,7% so với cùng kỳ năm 2018. Trong 10 tháng năm 2019, tổng kim ngạch xuất khẩu sản phẩm nhựa của Việt Nam đạt khoảng 2,8 tỷ USD, tăng 13% so với cùng kỳ năm trước.
  • Trong 9 tháng đầu năm 2019, có 7 sản phẩm nhựa đạt kim ngạch trên 100 triệu USD đó là: Túi nhựa; Tấm, phiến, màng nhựa; Sản phẩm nhựa gia dụng; Vải bạt; Các sản phẩm dùng trong vận chuyển, đóng gói; Sản phẩm nhựa công nghiệp và tượng nhỏ, chậu hoa và các đồ trang trí khác. Trong đó, 2 sản phẩm túi nhựa và tấm phiến màng nhựa đạt kim ngạch trên 500 triệu USD trong 9 tháng đầu năm 2019. Tổng kim ngạch 2 thị trường chiếm tới 47,5% thị phần xuất khẩu sản phẩm nhựa trong 9 tháng 2019.

TÌNH HÌNH NGÀNH NHỰA – HÓA CHẤT TUẦN TỪ  17/10 – 24/10/2019
Nhập khẩu nguyên liệu nhựa

Về thị trường nhập khẩu
  • Theo số liệu thống kê sơ bộ, nhập khẩu chất dẻo nguyên liệu tuần qua đạt 147 nghìn tấn với trị giá 197 triệu USD, tăng nhẹ về lượng 0,3% nhưng giảm 3,8% về trị giá so với tuần trước.
  • Nhập khẩu chất dẻo nguyên liệu từ thị trường Thái Lan, Hàn Quốc tăng mạnh; từ thị trường Singapore, Đài Loan, Trung Quốc, Mỹ đều giảm so với tuần trước.  
 
Xuất khẩu sản phẩm nhựa 

Về thị trường xuất khẩu
  • Theo số liệu thống kê sơ bộ, xuất khẩu sản phẩm nhựa tuần qua đạt 99,3 triệu USD, tăng 2,6% so với tuần trước.
  • Trong tuần qua, sản phẩm nhựa được xuất khẩu nhiều nhất tới 3 thị trường là Nhật Bản, Hàn Quốc và Mỹ với kim ngạch xuất khẩu đến 11 triệu USD. So với tuần trước, xuất khẩu sản phẩm nhựa đến Nhật Bản và Hàn Quốc đều tăng với mức tăng lần lượt là 6,4% và 12,0% còn xuất khẩu sản phẩm nhựa tới Mỹ giảm 5,5%.
Về chủng loại xuất khẩu
  • Trong tuần, tất cả các sản phẩm nhựa xuất khẩu đều có sự biến động nhẹ so với tuần trước đó.

 
*3920: Tấm, phiến, màng, lá và dải khác, bằng plastic, không xốp và chưa được gia cố, chưa gắn lớp mặt, chưa được bổ trợ hoặc chưa được kết hợp tương tự với các vật liệu khác
3921: Tấm, phiến, màng, lá và dải khác, bằng plastic
3923: Các sản phẩm dùng trong vận chuyển hoặc đóng gói hàng hóa, bằng plastic; nút, nắp, mũ van và các loại nút đậy khác, bằng plastic
3924: Bộ đồ ăn, bộ đồ dùng nhà bếp, các sản phẩm gia dụng khác và các sản phẩm phục vụ vệ sinh, bằng plastic
3926: Các sản phẩm khác bằng plastic và các sản phẩm bằng các vật liệu khác của các nhóm từ 3901 đến 3914.
3919: Tấm, phiến, màng, lá, băng, dải và các hình dạng phẳng khác tự dưng dính, bằng plastic, có hoặc không ở dạng cuộn.
 

Hãy chia sẻ với chúng tôi trên mạng xã hội:

Bài viết khác

Scroll