Bản tin Thương mại Ngành Nhựa và Hóa chất (Tuần từ 16/4 – 23/4/2020)

TỔNG QUAN KINH TẾ

Kinh tế thế giới
Tuần qua, mặc dù tình hình kiểm soát và khống chế dịch Covid - 19 đã ghi nhận những diễn biến tích cực với số ca lây nhiễm và tử vong đang chậm lại rõ rệt và một số quốc gia đang chuẩn bị mở cửa trở lại nền kinh tế, tuy nhiên, đà tăng trưởng của kinh tế toàn cầu vẫn đứng trước những rủi ro lớn trong bối cảnh giá dầu thô WTI lầ đầu tiên trong lịch sử xuống -38 USD/thùng trong phiên giao dịch ngày 20/4. Nguyên nhân chính khiến giá dầu giảm mạnh là do sự kết hợp giữa việc phải duy trì khai thác trong các kho chứa dầu hết chỗ và nhu cầu tiêu thụ sụt giảm mạnh do đại dịch Covid - 19. Tuy đã hồi phục trở lại trong những phiên sau đó, nhưng đây vẫn được coi là dấu hiệu của xu hướng giảm phát trên toàn cầu trong thời gian tới. Xét ở mặt tích cực, tình trạng này làm gia tăng kỳ vọng giá nhiên liệu rẻ có thể hỗ trợ tăng trưởng toàn cầu trở lại nhanh chóng. Tuy nhiên, giá dầu giảm cũng khiến các nhà xuất khẩu dầu và những nền kinh tế phụ thuộc dầu sẽ phải đối mặt với rất nhiều khó khăn và củng cố rõ nét nguy cơ suy thoái trước sự sụt giảm mạnh mẽ của nhu cầu tiêu thụ năng lượng toàn cầu.

 Kinh tế Mỹ
ü  Chính quyền Tổng thống Mỹ vào trung tuần tháng 4/2020 đã công bố bản hướng dẫn mở cửa nền kinh tế Mỹ trở lại dù quốc gia này vẫn đang là tâm dịch của thế giới.
ü  Việc mở cửa lại nền kinh tế Mỹ sẽ diễn ra theo 3 giai đoạn nhằm mục đích hưỡng dẫn các khu vực trên khắp nước Mỹ tiến dần đến việc nới lỏng lệnh hạn chế đối với doanh nghiệp và người dân với điều kiện các bang cho thấy sự suy giảm của đại dịch Covid - 19.
ü  Tổng số đơn xin trợ cấp thất nghiệp lần đầu trong tuần kết thúc là 5.245 triệu đơn, như vậy đã có tới 22 triệu người Mỹ nộp đơn xin trợ cấp thất nghiệp trong 1 tháng, cho thấy tỷ lệ thất nghiệp hiện tại ở Mỹ đã đạt ít nhất 17%.
*Mỹ hiện đang là quốc gia chịu ảnh hưởng nặng nề nhất thế giới do dịch Covid.

 Kinh tế Trung Quốc
ü  GDP Trung Quốc giảm 6,8% so với cùng kỳ năm trước theo số liệu của Cục Thống kê quốc gia nước này.
ü   Doanh số bán lẻ trong tháng 3/2020 tiếp tục giảm 15,8% so với tháng 3/2019, đưa doanh số bán lẻ quý I/2020 giảm tới 19% so với cùng kỳ năm trước.
ü   Sản xuất công nghiệp trong tháng 3/2020 giảm 1,1% đưa chỉ số này trong quý I/2020 giảm 8,4%.
ü  Tỷ lệ thất nghiệp trong tháng 3/2020 là 5,9%, tuy nhiên con số này chưa bao gồm số lao động di cư mất việc làm hoặc không thể trở lại chỗ làm do lệnh cấm đi lại.
ü  PBoC đã hạ lãi suất cơ bản lần thứ 2 nhằm giảm chi phí đi vay cho doanh nghiệp và thúc đẩy nền kinh tế.
ü  Dự báo hoạt động sản xuất và xuất khẩu của Trung Quốc sẽ tiếp tục gặp khó khăn trong tháng 4 và tháng 5.

Kinh tế trong nước          
ü  Tín dụng toàn hệ thống chỉ tăng 0,8% đến giữa tháng 4/2020.
ü  Nhu cầu vay vốn của khối doanh nghiệp nhỏ và vừa giảm hơn 1%.
ü  Ngân hàng đã triển khai nhiều giải pháp nhằm hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn cho khách hàng bị ảnh hưởng bởi dịch, cụ thể như cơ cấu nợ, miễn giảm lãi suất vay, giữ nguyên nhóm nợ và cho vay mới. Tuy nhiên những viện pháp hỗ trọ này chỉ xoa dịu được phần nào khó khăn khi tình hình dịch bện vẫn đang tác động nghiêm trọng đến các doanh nghiệp, ảnh hưởng lớn đến dòng tiền trả nợ cho ngân hàng, kéo theo rủi ro nợ xấu gia tăng trở lại trong thời gian tới.
Xu hướng giảm kỷ lục của giá dầu thô trên thị trường thế giới được nhận định là yếu tố tích cực giúp giảm chi phí nhập khẩu xăng dầu qua đó giúp giảm nhập siêu cũng như tiết kiệm ngoại tệ cho Việt Nam. 

NGÀNH NHỰA – HÓA CHẤT VIỆT NAM

Nhập khẩu hóa chất
  • Kim ngạch nhập khẩu hóa chất tháng 4/2020 ước đạt 450 triệu USD, giảm 14,7% so với tháng 03/2020. Tổng 4 tháng đầu năm 2020, kim ngạch nhập khẩu mặt hàng này ước đạt 1,76 tỷ USD, tăng 5,4% so với cùng kỳ năm 2019.
  • Giá nhập khẩu trung bình nhiều loại hóa chất giảm trong tháng 3/2020 so với tháng 2/2020 như: Axit terephthalic tinh chế, Natri carbonate, Natri sunphate,…


Nhập khẩu chất dẻo nguyên liệu 
  • Nhập khẩu chất dẻo nguyên liệu trong tháng 4/2020 ước đạt 570 nghìn tấn với trị giá 753 triệu USD. Tổng 4 tháng đầu năm 2020, nhập khẩu mặt hàng này ước đạt 2,15 triệu tấn với trị giá 2,81 tỷ USD, tăng 10,5% về lượng nhưng giảm 1,4% về trị giá so với cùng kỳ năm 2019.
  • Nhập khẩu chất dẻo nguyên liệu tháng 3/2020 đạt 570 nghìn tấn với trị giá 759 triệu USD, giảm 3,8% về lượng nhưng táng 2,5% về trị giá so với tháng 2/2020. Lượng nhập khẩu chất dẻo nguyên liệu PE; PP và EVA giảm với mức giảm lần lượt là 12,2%; 18,1% và 10,3% so với tháng trước.

Xuất khẩu sản phẩm nhựa
  • Theo thống kê sơ bộ, xuất khẩu sản phẩm nhựa của Việt Nam trong tháng 4/2020, đạt 300 triệu USD, giảm 1,2% so với tháng 3/2020 nhưng tăng 7,5% so với tháng 4/2019. Trong 4 tháng đầu năm 2020, xuất khẩu sản phẩm nhựa của Việt Nam ước đạt 1,1 tỷ USD tăng 1,3% so với cùng kỳ năm trước
  • Trong 3 tháng đầu năm 2020, có 21 chủng loại sản phẩm nhựa được xuất khẩu trong đó có 13 sản phẩm nhựa đạt kim ngạch trên 10 triệu USD. 2 sản phẩm nhựa đạt kim ngạch trên 150 triệu USD đó là túi nhựa và tấm, phiến, màng nhựa.

TÌNH HÌNH NGÀNH NHỰA – HÓA CHẤT TUẦN TỪ  16/4 – 23/4/2020
Nhập khẩu nguyên liệu nhựa
  • Về thị trường nhập khẩu
  • Theo số liệu thống kê sơ bộ, nhập khẩu chất dẻo nguyên liệu tuần qua đạt 151 nghìn tấn với trị giá 187 triệu USD, giảm cả về lượng và trị giá lần lượt là 0,3% và 10,4% so với tuần trước.
  • Nhập khẩu chất dẻo nguyên liệu từ thị trường Singapore, Thái Lan, Arap Xeut tăng mạnh; từ thị trường Hàn Quốc, Hồng Kong, Nhật Bản giảm so với tuần trước.
Xuất khẩu sản phẩm nhựa
  • Về thị trường xuất khẩu
  • Sơ bộ thống kê, kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm nhựa tuần qua đạt 93,6 triệu USD, tăng 11,5% so với tuần trước.
  • Về chủng loại xuất khẩu
  • Trong tuần, tất cả các sản phẩm nhựa xuất khẩu đều có sự biến động nhẹ so với tuần trước đó

*3920: Tấm, phiến, màng, lá và dải khác, bằng plastic, không xốp và chưa được gia cố, chưa gắn lớp mặt, chưa được bổ trợ hoặc chưa được kết hợp tương tự với các vật liệu khác.s
3921: Tấm, phiến, màng, lá và dải khác, bằng plastic.
3923: Các sản phẩm dùng trong vận chuyển hoặc đóng gói hàng hóa, bằng plastic; nút, nắp, mũ van và các loại nút đậy khác, bằng plastic.
3924: Bộ đồ ăn, bộ đồ dùng nhà bếp, các sản phẩm gia dụng khác và các sản phẩm phục vụ vệ sinh, bằng plastic.
3926: Các sản phẩm khác bằng plastic và các sản phẩm bằng các vật liệu khác của các nhóm từ 3901 đến 3914.
3919: Tấm, phiến, màng, lá, băng, dải và các hình dạng phẳng khác tự dưng dính, bằng plastic, có hoặc không ở dạng cuộn
Hãy chia sẻ với chúng tôi trên mạng xã hội:

Bình luận, hỏi đáp thắc mắc của bạn bè về bài viết

Bài viết khác

Scroll