Bản tin Thương mại Ngành Nhựa và Hóa chất (Tuần từ 07/11 – 14/11/2019)

TỔNG QUAN KINH TẾ
Kinh tế thế giới
Kinh tế toàn cầu tiếp tục đối mặt với hàng loạt rủi ro trước diễn biến kém khả quan của các chỉ số vĩ mô của các nền kinh tế chủ chốt.

Kinh tế Trung Quốc
  • Chỉ số giá sản xuất (PPI) trong tháng 10/2019 đã giảm 1,6% so với tháng 10/2018, đánh đấu mức giảm mạnh nhất kể từ tháng 8/2016, và là tháng giảm thứ tư liên tiếp của chỉ số này, trong bối cảnh tăng trưởng kinh tế Trung Quốc Quý III/2019 ở mức chậm nhất trong gần 3 thập kỷ và giá năng lượng giảm liên tục kể từ tháng 6/2019 đến nay.
  • Diễn biến này đang kéo theo nguy cơ giảm giá hàng hóa trên khắp thế giới, đây được xem là thách thức mới đối với các ngân hàng Trung ương toàn cầu trong việc phục hồi áp lực lạm phát; gây ra làn sóng giảm giá cho các doanh nghiệp trên toàn cầu nhằm cạnh tranh với Trung Quốc; đồng thời góp phần khiến cuộc chiến thương mại với Mỹ trở nên căng thẳng hơn.
Kinh tế Nhật Bản
  • Nhật Bản có GDP trong Quý III tăng trưởng chỉ tăng trưởng 0.2% so với cùng kỳ năm trước, nguyên nhân chính là do ảnh hưởng bởi chiến tranh thương mại Mỹ Trung, và nhu cầu toàn cầu yếu đã ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất của nước này.
  • Tăng trưởng tiêu dùng tư nhân cũng chỉ tăng 0.4%, thấp hơn với mức tăng 0.6% của Quý II/2019
Diễn biến này đang tạo sức ép lên các cơ quan hoạch định chính sách của nước này trong việc nới lỏng hơn nữa các chính sách tiền tệ nhằm hỗ trợ các nền kinh tế đang đứng trước ngưỡng suy thoái.

Kinh tế Anh Quốc
  • GDP trong Quý III/2019 chỉ đạt tốc độ tăng trưởng 0.3% so với quý trước, mặc dù đã cải thiện hơn mức giảm 0.2% trong Quý II, nhưng vẫn thấp hơn so với kỳ vọng.
  • Sản xuất công nghiệp trong tháng 10/2019 giảm 0.4% so với tháng trước và giảm 1.8% so với cùng kỳ năm 2018, giảm mạnh hơn so với mức dự kiến giảm 1,6%.
  • Kinh tế Anh trong Quý III/2019 chỉ tăng 1%, đánh dấu mức tăng trưởng thấp nhất của chỉ số này trong 10 năm gần đây trước những ảnh hưởng tiêu cực của kinh tế toàn cầu suy yếu, và diễn biến phức tạp của tiến trình Brexit.
Kinh tế Mỹ
  • Chỉ số CPI trong tháng 10 tăng 0.4%, cao hơn so với mức dự báo 0.3%. CPI lõi của nền kinh tế này cũng tăng 0.2%.
  • Chỉ số CPI của Mỹ đã tăng 1,8% và tiến gần đến mức kỳ vọng 2%.
  • FED quyết định cắt giảm lãi suất 0,25% xuống 1,5-1,75%, hàng loạt ngân hàng Trung ương đã đi theo xu hướng này. Nguyên nhân chính khiến Mỹ và các nước khác nới lỏng lãi suất đều vì mục đích thúc đẩy tăng trưởng kinh tế cùng với lo ngại trước sức ép tỉ giá do đồng nội tệ của nhiều nước hiện vẫn “neo” chặt đồng USD.
Kinh tế trong nước                                           
  • Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam trong 10 tháng đầu năm 2019 đạt 428,63 tỉ USD, tăng 8%, tương ứng với 31,7 tỉ USD về số tuyệt đối so với cùng kỳ năm 2018.
  • Mức thặng dư thương mại hàng hóa Việt Nam đạt 9,01 tỷ USD.
  • Kim ngạch xuất khẩu Việt Nam đạt 218,82 tỷ USD, tăng 8,3%, tương ứng với 16,7 tỷ USD so với cùng kỳ năm trước. 10 nhóm hàng xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam trong 10 tháng qua là điện thoại, máy tính, hàng dệt may, giày dép, máy móc thiết bị, gỗ, phương tiện vận tải, hàng thủy sản, sắt thép và xơ sợi dệt các loại.
  • Tổng kim ngạch nhập khẩu của cả nước đạt 209,81 tỷ USD,t ăng 7,7%, tương ứng 15 tỷ USD so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, 10 ngành hàng có giá trị nhập khẩu cao nhất 10 tháng qua bao gồm: máy vi tính và sản phẩm điện tử, máy móc thiết bị, điện thoại và các loại linh kiện, vải, sắt thép, chất dẻo và sản phẩm từ chất dẻo, kim loại thường, nguyên phụ liệu dệt may và xăng dầu.
Trong bối cảnh tổng cầu kinh tế thế giới giảm, hoạt động thương mại và đầu tư thế giới cũng giảm, xuất khẩu hàng hóa Việt Nam trong 10 tháng qua vẫn đạt tốc độ tăng trưởng khả quan, cho dù tăng trưởng này chậm hơn cùng kỳ năm 2018 và 2017, nhưng đã đạt tiêu chuẩn đặt ra của Quốc hội, là đưa tăng trưởng xuất khẩu tăng 7-8% năm 2019.

NGÀNH NHỰA – HÓA CHẤT VIỆT NAM
Nhập khẩu hóa chất
  • Kim ngạch nhập khẩu hóa chất tháng 10/2019 đạt 439 triệu USD, tăng 7,8% so với tháng trước. Tổng 10 tháng đầu năm 2019, kim ngạch nhập khẩu mặt hàng này đạt 2,28 tỷ USD, tăng 0,8% so với cùng kỳ năm 2018.
  • Kim ngạch nhập khẩu hóa chất tháng 10/2019 từ các thị trường chính Đài Loan, Hàn Quốc, Indonesia, Ấn Độ tăng so với tháng trước. Trong đó từ thị trường Hàn Quốc, Indonesia tăng mạnh với mức tăng lần lượt là 30,5% và 127%.
 
Nhập khẩu chất dẻo nguyên liệu 
  • Nhập khẩu chất dẻo nguyên liệu tháng 10/2019 đạt 574 nghìn tấn với trị giá 781 triệu USD, tăng 9% về lượng và tăng 9,1% về trị giá so với tháng 9/2019. 10 tháng đầu năm 2019, nhập khẩu mặt hàng này đạt 5,24 triệu tấn với trị giá 7,49 tỷ USD, tăng 14,5% về lượng nhưng giảm nhẹ 0,03% về trị giá so với cùng kỳ năm 2018.
  • Nhập khẩu chất dẻo nguyên liệu tháng 10/2019 từ các thị trường Hàn Quốc, Đài Loan, Malaysia tăng mạnh so với tháng 9/2019.


Xuất khẩu sản phẩm nhựa
  • Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan xuất khẩu sản phẩm nhựa của Việt Nam trong 10 tháng 2019 đạt 2.842,2 triệu USD, tăng 13.8% so với cùng kỳ năm 2018. Tính riêng trong tháng 10/2019, kim ngạch xuất khẩu nhựa của Việt Nam đạt 309,8 triệu USD, tăng 9,2% so với tháng 9/2019, và tăng 10,8% so với cùng kỳ năm ngoái.
  • Trong 10 tháng năm 2019, xuất khẩu sản phẩm nhựa tới 7 thị trường đạt kim ngạch trên 110 triệu USD, đó là Nhật Bản, Mỹ, Hàn Quốc, Trung Quốc, Campuchia, Hà Lan và Đức. Đáng chú ý, xuất khẩu sản phẩm nhựa đến thị trường Nhật Bản và Mỹ trong 10 tháng đầu năm 2019 có kim ngạch xuất khẩu đến 500 triệu USD, cao hơn rất nhiều so với xuất khẩu sản phẩm nhựa sang các thị trường còn lại.
 
Xuất khẩu vải bạt trong 9 tháng 2019
  • Vải bạt đứng thứ tư về xuất khẩu sản phẩm nhựa Việt Nam trong 9 tháng đầu năm 2019, với kim ngạch đạt 261,7 triệu USD, chiếm 10,6% tổng kim ngạch xuất khẩu sản phẩm nhựa trong 9 tháng, tăng 6,7% so với cùng kỳ 2018.
  • Tháng 9/2019, xuất khẩu sản phẩm nhựa vải bạt đạt 26,6 triệu USD, giảm 9,3% so với tháng trước nhưng tăng 10% so với cùng kỳ 2018.
  • Dự kiến, trong năm 2019 kim ngạch xuất khẩu các sản phẩm nhựa vải bạt sẽ tăng trên 10% so với 2018.

 
TÌNH HÌNH NGÀNH NHỰA – HÓA CHẤT TUẦN TỪ  07/11 – 14/11/2019
Nhập khẩu nguyên liệu nhựa
Về thị trường nhập khẩu
  • Theo số liệu thống kê sơ bộ, nhập khẩu chất dẻo nguyên liệu tuần qua đạt 152 nghìn tấn với trị giá 211 triệu USD, giảm 4% về lượng nhưng tăng 2,9% về trị giá so với tuần trước.
  • Nhập khẩu chất dẻo nguyên liệu từ thị trường Singapore, Đài Loan, Mỹ, Thái Lan đều giảm so với tuần trước.

 
Xuất khẩu sản phẩm nhựa 
Về thị trường xuất khẩu
  • Theo số liệu thống kê sơ bộ, xuất khẩu sản phẩm nhựa tuần qua đạt 95,1 triệu USD, tăng 9,5% so với tuần trước.
  • Trong tuần qua, các sản phẩm nhựa được xuất khẩu nhiều nhất tới 3 thị trường là Nhật Bản, Hàn Quốc và Mỹ với kim ngạch xuất khẩu đến 12 triệu USD. So với tuần trước, xuất khẩu sản phẩm nhựa đến các thị trường trên đều giảm, với mức giảm lần lượt là 15,4%, 21,6%, 2,2%.
Về chủng loại xuất khẩu
  • Trong tuần, tất cả các sản phẩm nhựa xuất khẩu đều có sự biến động nhẹ so với tuần trước đó.

*3920: Tấm, phiến, màng, lá và dải khác, bằng plastic, không xốp và chưa được gia cố, chưa gắn lớp mặt, chưa được bổ trợ hoặc chưa được kết hợp tương tự với các vật liệu khác.
3921: Tấm, phiến, màng, lá và dải khác, bằng plastic.
3923: Các sản phẩm dùng tsrong vận chuyển hoặc đóng gói hàng hóa, bằng plastic; nút, nắp, mũ van và các loại nút đậy khác, bằng plastic.
3924: Bộ đồ ăn, bộ đồ dùng nhà bếp, các sản phẩm gia dụng khác và các sản phẩm phục vụ vệ sinh, bằng plastic.
3926: Các sản phẩm khác bằng plastic và các sản phẩm bằng các vật liệu khác của các nhóm từ 3901 đến 3914.
3919: Tấm, phiến, màng, lá, băng, dải và các hình dạng phẳng khác tự dưng dính, bằng plastic, có hoặc không ở dạng cuộn.
 

Hãy chia sẻ với chúng tôi trên mạng xã hội:

Bài viết khác

Scroll